Hotline liên hệ
0975028148

4 Tiêu chuẩn sống còn quyết định giá trị của đá quý

15:48 | 27/03/2019

Trong bài viết này tôi sẽ giới thiệu đến các bạn 4 tiêu chí để chọn một viên đá quý chất lượng hoàn hảo, dựa theo kinh nghiệm của những chuyên gia phân tích đá quý hàng đầu thế giới. Tất nhiên nó còn dựa trên nhiều yếu tố để quyết định giá thành. Ví dụ như xuất xứ,thị trường, người cần bán và người cần mua...

Tiêu chuẩn Đá quý 4C, T và O của Đá quý màu tự nhiên Với sự phát triển của người tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến hơn. Thị trường đá quý cũng rất nhộn nhịp và không bao giờ lắng xuống do nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp Hoàng gia trên thế giới.

 

Khuôn khổ cơ bản để đánh giá giá trị của đá quý là :

- Màu sắc ( color )

- Carat (trọng lượng) 

- Cắt (hình dạng và tỷ lệ) 

- Độ trong ( độ tinh khiết )

Với khuôn khổ này, ngay cả một người tiêu dùng mới làm quen cũng có thể hiểu rằng trọng lượng carat càng lớn, đường cắt càng tốt, đá càng sạch và màu càng đẹp thì đá càng có giá trị. Hơn nữa, với phán đoán ở độ cứng 10 lần (phổ biến đối với kim cương), tất cả các yếu tố này có thể được xác minh ở mức độ thứ nhất dành độ tin cậy cao cho ngay cả những khách hàng lo lắng nhất.


Ruby hay còn gọi là Hồng ngọc.

 

1. Màu sắc

Màu sắc luôn luôn đứng đầu danh sách khi phân loại đá quý, sự đồng nhất, vẻ đẹp và chất lượng của màu sắc là yếu tố chính quyết định chất lượng và giá trị.

Đối với các loại đá quý nói chung thì màu sắc là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến chất lượng. Màu sắc được quyết định bởi 3 yếu tố:

  1. Gam màu: Là chỉ một màu nhất định trên biểu đồ màu, đó là các màu cơ bản như: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tím,… Theo đúng nghĩa thì mầu trắng và mầu đen không được coi là mầu sắc thực sự: mầu trắng là cảm nhận của mắt người đối với một hỗn hợp đều của tất cả các bước sóng trong vùng nhìn thấy, từ 400 đến 700 nm, còn mầu đen là khi không có một bước sóng nào đập vào mắt người. Màu nâu cũng không được gọi là màu riêng biệt bởi chúng là hoà trộn giữa màu vàng và màu cam. Trong thế giới các loại đá quý thì ruby, emơrot và saphia được coi là tương ứng với 3 màu cơ bản trong tự nhiên là màu đỏ, màu lục và màu lam.
  2.  Độ bão hoà màu: chỉ độ tinh khiết hoặc độ tươi xỉn của mầu. Khi xem xét màu sắc của một viên đá quý ở một gam màu cụ thể (chẳng hạn ruby) sự khác nhau về chất lượng của màu sắc (màu đỏ) chính là sự khác nhau về độ bão hoà màu và thông thường thì người ta thường ưa chuộng những loại có độ bão hoà màu cao hơn. Cường độ phát quang mạnh cũng được coi là có độ bão hoà màu cao.
  3. Tông màu: Chỉ mức độ sáng, tối của màu hoặc đó chính là mức độ hấp thụ ánh sáng của đá quý. Màu trắng là màu có 0% tối và màu đen là màu 100% tối. Khi ở độ bão hoà cao nhất các loại đá quý thường có màu tối hơn khi chúng ở độ bão hoà thấp. Ở cùng một độ bão hoà nhưng các loại đá quý có gam màu khác nhau thì cũng có tông màu khác nhau. Chẳng hạn như cùng độ bão hoà nhưng màu tím sẽ có tông màu sáng hơn so với màu vàng. Màu đỏ và màu lục thường có độ sáng như nhau ở cùng cấp độ bão hoà. Khi đánh giá chất lượng màu sắc của đá quý thì tông màu là một yếu tố rất quan trọng.


Spinel đỏ gốc lục yên.

2. Carat ( trọng lượng )

Những viên đá lớn hơn luôn được coi là có giá trị hơn những viên nhỏ hơn. Điều này đúng với một điểm tuy nhiên; nếu tất cả các yếu tố khác ở mức tối đa, màu sắc tốt nhất, đường cắt tuyệt vời, độ rõ nét đặc biệt, thì những viên đá nhỏ hơn có thể có giá trị hơn những thứ không có.
 

Trọng lượng của đá quý được tính bằng carat (1carat = 0.2gram). Giá trị của đá quý tăng rất nhanh theo trọng lượng và tăng theo cấp số nhân.

Khi đánh giá chất lượng đá quý người phân cấp chất lượng cần phải đánh giá tổng thể 4 tiêu chí trên với sự hỗ trợ của các thiết bị cần thiết:

 

  1. Để xác định mầu sắc người ta sử dụng các phương pháp sau đây:
  •  Các phương pháp trực quan: so sánh với các mẫu chuẩn (tự nhiên và nhân tạo), các bảng mầu chuẩn v.v.
  •  Các phương pháp đo mầu: dùng các thiết bị như Color Master của Viện Ngọc Mỹ (GIA), Color Scan của các phòng Ngọc học Mỹ (AGL), các máy đo phổ.
Để xác định màu chính xác cần có các thiết bị cơ bản là:

- Đèn ánh sáng ban ngày;

- Bộ màu chuẩn;

- Các thiết bị phóng đại tiêu sắc, tương phản khác nhau như kính lúp, kính hiển vi.

 

Nên nhớ một điều rằng ánh sáng khác nhau sẽ làm cho ta có các cảm nhận khác nhau về màu sắc và do vậy sẽ đưa ra nhận định không chính xác về màu. Cần thiết có thể kết hợp các chế độ chiếu sáng khác nhau để đánh giá, nhiều khi với mỗi gam màu nhất định ta sẽ dùng một chế độ chiếu sáng phù hợp.

 

3. Cắt ( kiểu chế tác )

Với đá quý màu, độ phức tạp của vết cắt không ảnh hưởng đến vẻ đẹp và sự phản chiếu ánh sáng của viên đá giống như cách nó sẽ tạo ra viên kim cương 'trắng' hoặc kim cương màu. Những viên đá màu có ánh sáng tự nhiên của riêng họ, chỉ được tăng cường bởi chất lượng và kiểu dáng của viên đá. Một vết cắt đơn giản có thể giới thiệu các điểm cao của một viên đá màu cũng như một vết cắt phức tạp. Không giống như kim cương, số lượng mặt lớn hơn sẽ không ảnh hưởng đến giá trị của đá. Trong thực tế đôi khi nó có thể làm mất vẻ đẹp tiềm năng của đá.

Chất lượng chế tác của đá quý phản ánh mối quan hệ giữa vẻ đẹp của viên đá với khối lượng lớn nhất có thể sau khi chế tác. Chất lượng chế tác được đặc trưng bởi các chỉ tiêu sau:

  • - Hình dạng

Thạch anh kết tủa nguyên gốc.
  • - Kiểu chế tác

Ruby cắt mài fancet.
  • - Độ cân đối
​​​​​​​
Citrine trắng tinh khiết.
  • - Độ đối xứng
​​​​​​​
Ruby tinh khiết
  • - Độ hoàn thiện. 
​​​​​​​
Tượng rồng ruby đỏ

Các bộ phận của một viên đá đã chế tác

Hình dạng : là hình dạng chung của viên đá, cùng với sự phân bố của các mặt giác.

Hình dạng chế tác và tên gọi của nó

Kiểu chế tác :

  • - Facet (mài giác): thường áp dụng cho những viên có độ trong suốt cao, gồm các kiểu: kiểu kim cương, kiểu đáy tầng và kiểu hỗn hợp.
  • - Cabochon (mài khum): áp dụng cho những viên có độ tinh khiết kém, nhiều khuyết tập, hoặc những viên có hiệu ứng sao, mắt mèo.

Độ cân đối: là qua hệ giữa các phần khác nhau của viên đá với đường kính theo thắt lưng. Khi xác định độ cân đối, cần đo một loạt thông số, sau đó so sánh với các yêu cầu kỹ thuật của mỗi kiểu chế tác để đánh giá. Quan trọng nhất là các yếu tố tỷ lệ giữa phần trên và phần dưới, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng. Ở mỗi kiểu chế tác khác nhau thì các tỷ lệ này cũng khác nhau.

 

Ví dụ: Theo tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng
  • - Kiểu trái tim có tỷ lệ là 1:1.
  • - Kiểu ovan có tỷ lệ là 1,5-1,75: 1.
  • - Kiểu chữa nhật: 1,5:1.

 

 

 

Khi một viên đá chế tác quá nông thì ánh sáng dễ dàng xuyên qua

ít bị phản xạ và độ long lanh sẽ giảm đi rất nhiều

Độ đối xứng: Là tương quan giữa các phần, các bộ phận của viên đá sau chế tác. Khi xem xét ta phải chú ý đến các yếu tố sau:

  • - Độ lệch của tim đáy.
  • - Độ lệch của mặt bàn.
  • - Tỷ lệ của thắt lưng so với chiều dày.
  • - Mặt bàn có song song với thắt lưng không?.
Độ hoàn thiện: chất lượng bề mặt của viên đá, độ chính xác về hình khối chung và sự sắp xếp của các giác. Độ cân đối thể hiện qua:

- Độ đối xứng : độ chính xác về hình dạng và sự sắp xếp của các giác mài.

- Độ bóng : chất lượng bề mặt của viên đá.

 

Dựa vào tất cả các chỉ tiêu trên, người ta chia chất lượng chế tác thành các cấp sau đây:

  • - Chế tác rất tốt
  • - Chế tác tốt
  • - Chế tác trung bình
  • - Chế tác kém

4. Độ tinh khiết

Sự rõ ràng đề cập đến sự thiếu sót của đá. Điều đáng chú ý là các vùi trong đá màu là đặc biệt phổ biến và chỉ ảnh hưởng đến giá của một viên đá ở một mức độ. Trừ khi đá sạch mắt, hoặc làm sạch bằng kính, có thể lấy giá cao hơn nhiều, ngược lại đá mờ sẽ rẻ hơn rất nhiều.

Độ tinh khiết được hiểu là độ chứa các bao thể và các khuyết tật bên trong và bên ngoài của viên đá. Độ tinh khiết cũng là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng của đá quý (sau mầu sắc). Các bao thể trong đá quý có thể là các bao thể rắn, bao thể lỏng, bao thể đa pha hoặc là các khe nứt, vết vỡ được hàn gắn,…

Sự khác nhau của các cấp độ tinh khiết

Khi xem xét ảnh hưởng của các bao thể đến chất lượng đá quý ta cần phải chú ý đến các yếu tố sau:

- Mức độ nhìn thấy của các bao thể: phụ thuộc vào :
  •       + Kích thước của bao thể: Bao thể có kích thước càng nhỏ thì càng ít ảnh hưởng đến chất lượng của đá quý.
  •      + Số lượng của bao thể: Đá quý càng có ít bao thể càng tốt.
  •      + Màu sắc của bao thể: Bao thể sáng màu sẽ tốt hơn là bao thể tối màu.
  •      + Vị trí của bao thể: Các bao thể nằm ở phần đáy hoặc phần rìa thắt lưng sẽ ít ảnh hưởng đến chất lượng đá quý hơn là các bao thể nằm sát phía trên mặt bàn.
- Mức độ ảnh hưởng đến độ bền của viên đá: chủ yếu là các khe nứt, vết vỡ; chúng phụ thuộc vào:
  •       + Kiểu của khe nứt: Các khe nứt chưa được hàn gắn nhiều khi khó quan sát thấy hơn là các khe nứt khi được hàn gắn tuy nhiên chúng lại làm cho độ bền của bản thân viên đá đó giảm đi. Do vậy nhiều khi chúng ta phải chấp nhận hàn gắn để làm tăng độ bền của đá quý.
  •       + Vị trí của các khe nứt: Các khe nứt nằm ở đáy (culet) hoặc ở rìa của cạnh thắt lưng sẽ làm cho độ bền của viên đá giảm đi nhiều hơn là các khe nứt phát triển hoàn toàn bên trong viên đá. Các khe nứt phần ở mặt trên (crown) sẽ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hơn là các khe nứt phân bố ở phần dưới (pavilion).


Spinel thiên nhiên đã qua giám định đá quý

Tiết lộ về quá trình đã "xử lý" hay chưa của viên đá cũng rất quan trọng

Cho dù đá quý là tự nhiên hay được xử lý, hoặc tổng hợp cho vấn đề đó, tất cả thông tin liên quan đến bất kỳ quá trình nâng cao nào được thực hiện đối với đá quý tự nhiên phải được tiết lộ khi:

- đá đã trải qua bất kỳ quá trình xử lý
- việc xử lý không vĩnh viễn và tác dụng của nó bị mất theo thời gian (ví dụ dầu trong ngọc lục bảo); 
- việc xử lý có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của đá quý (ví dụ: xử lý nhiệt trong hồng ngọc và ngọc bích, hoặc dầu hoặc nhựa trong ngọc lục bảo, hoặc chiếu xạ trong kim cương).

Nói chung, hầu hết các loại đá quý đều trải qua một số quá trình xử lý. Tôi sẽ cam kết để nói rằng đó là bình thường đối với hồng ngọc, ngọc bích và ngọc lục bảo đã trải qua một số quá trình tăng cường hoặc xử lý nhiệt, điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được, miễn là nó được tiết lộ rõ ràng với người mua.

Phương pháp xử lý phổ biến cho hồng ngọc, saphia và ngọc lục bảo :

Đối với hồng ngọc và saphia, phương pháp xử lý phổ biến nhất là đốt, xử lý nhiệt. Đá vẫn là 100% tự nhiên, nhưng vùi và tạp chất màu đã được loại bỏ hoặc giảm, hoặc trong một số trường hợp được tăng cường thông qua ở nhiệt độ cao. Bất kỳ sự gia nhiệt nào nữa, đặc biệt là trên hồng ngọc, liên quan đến một vật liệu giống như thủy tinh được đưa vào, nó sẽ tan chảy ở nhiệt độ cực cao và lấp đầy bất kỳ bề mặt nào chạm vào vết nứt trên đá làm cho nó ổn định hơn, sáng hơn và sạch hơn.

Nhìn chung, ngọc lục bảo trải qua một quá trình bôi dầu. Điều này thường được thực hiện bằng cách sử dụng dầu tự nhiên hoặc tổng hợp và được sử dụng để lấp đầy bất kỳ bề mặt nào bị nứt (rất phổ biến trong ngọc lục bảo). Dầu tự nhiên sẽ có xu hướng khô dần theo thời gian, nhưng được một số khách hàng coi là dễ chấp nhận hơn so với nhựa tổng hợp là vĩnh viễn. Các loại dầu và nhựa được giới thiệu bằng cách sử dụng chân không và về cơ bản chúng bị hút vào các vết nứt và vết nứt.

Tất cả các phương pháp xử lý tăng cường màu sắc phải được tuyên bố, cam kết rõ ràng !


Phương pháp xử lý đá quý

Những viên đá có vẻ ngoài đáng kinh ngạc, nhưng chưa trải qua bất kỳ sự điều trị nào, cực kỳ hiếm, thường là 1% sản lượng, rất đắt và thường được kèm theo ít nhất một chứng chỉ để chứng minh thực tế này.

Đối với kim cương màu tự nhiên, không nên có sự cải tiến về màu sắc hoặc độ tinh khiết. Nếu có, điều này phải được làm rõ ngay từ đầu, vì nó sẽ làm giảm giá kim cương.

Nguồn Gốc

  1. Nguồn gốc của một viên đá quý có thể ảnh hưởng lớn đến giá trị của nó. Nó quan trọng hơn trong hồng ngọc, ngọc bích và ngọc lục bảo so với kim cương màu, ngoại trừ kim cương Argyle màu hồng. Giá lý do lớn nhất bị ảnh hưởng bởi nguồn gốc, là mỗi khu vực địa lý mang lại cho hòn đá một nét đặc trưng riêng. Những viên ruby ​​và saphia của Miến Điện thường trông khá khác biệt so với những người đến từ Mozambique hoặc Madagascar.

  2. Nguồn gốc của Ruby thường chia thành 2 khu vực địa lý chính. Á CHÂU: Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Sri Lanka. CHÂU PHI: Mozambique, Tanzania Madagascar. Miến Điện được đánh giá cao nhất.Nguồn gốc của Sapphire theo mô hình tương tự như hồng ngọc, nhưng những viên sapphire được tìm kiếm nhiều nhất đến từ Kashmir, hiện đã cạn kiệt, sau đó là Miến Điện, Sri Lanka, Madagascar và các khu vực khác như Thái Lan, Úc, Trung Quốc và thậm chí cả Montana (được đánh giá cao bởi người Mỹ ).

  3. Hồng ngọc ( ruby ) chỉ còn sót lại chút ít ở Việt Nam.


Ruby việt nam

Đối với Ngọc lục bảo, nguồn gốc chính là: Colombia - . Zambia - Được phổ biến hơn bởi Gemfields. Afghanistan và Brazil - Cung cấp đá rất nhỏ cho thị trường.
Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm về Đá Quý tại đây :

Các tin khác
© Copyright 2018  LONGCHAUBAONGOC
Mạng xã hội