Hotline liên hệ
0975028148

Tranh đông hồ và ý nghĩa lịch sử làng nghề

15:26 | 20/12/2019

Tranh đông hồ là thể loại tranh dân gian có nguồn gốc lịch sử lâu đời của nước Việt. Tranh được khắc trên những bản in bằng nhiều loại gỗ mít, gỗ xoan, thị hay gỗ thừng mực. Kết hợp với giấy điệp làm bằng vỏ sò giã nhỏ cho màu trắng ngà rất lấp lánh. Thời gian trước tranh chủ yếu phục vụ cho dịp lễ hội, ngày tết dành cho những người dân địa phương để trang trí nhà cửa với giá rẻ vì mỗi năm mới đến dân làng lại lột bỏ để mua tranh mới.
101 mau tranh dong ho dep nhat moi thoi dai

Video Tranh dân gian Đông Hồ là di sản văn hóa quốc gia, xuất xứ nguồn gốc từ làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay là Bắc Ninh.

I. Nguồn gốc lịch sử tranh đông hồ

Không biết từ bao đời nay đã tồn tại dòng tranh mang tính lịch sử dân gian, truyền từ đời này qua đời khác tại những làng nghề tranh đông hồ truyền thống nổi tiếng ở Đông Hồ Bắc Ninh. Không chỉ nổi tiếng là một làng quê trù mật của văn hóa truyền thống, mà còn là cái nôi của những làn điệu dân ca quan họ đằm thắm, mượt mà.

 Bạn có biết theo lịch sử của sử sách ghi lại, người Việt đã biết làm một loại giấy gọi là mật hương chỉ vào thế kỷ thứ III. Nghề khắc ván ở đây cũng có từ thế kỷ XI, XII. Sách Thiền uyển tập anh nói là tổ tiên nhà sư Tín Học, cuối thế kỷ XII đã làm nghề khắc ván. Năm 1299 nhà Trần đã cho in hai bộ kinh khắc ván để ban bố.

Tuy nhiên, tranh khắc gỗ dân gian như ta hiểu ngày nay là một khái niệm đến sau.
tranh dong ho va nguon goc lich su

Thời thịnh vượng nhất của dòng tranh này là vào khoảng thế kỷ thứ XVII, VVIII, dân quanh vùng thường gọi loại tranh này với cái tên ngắn gọn, thân mật hơn đó là “tranh tết”.

Đặc biệt đồng hành cùng tranh dân gian Việt Nam đông hồ thì tại một vùng đất được mệnh danh là đất nước mặt trời mọc, tranh khắc gỗ lại phát triển như một hình thức nghệ thuật bắt đầu từ khi kỹ thuật này lan truyền vào từ Trung Quốc ở cuối thế kỷ thứ 8.

Khắc gỗ tại Nhật Bản đạt đến đỉnh cao trong khoảng thời gian từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (tức là cùng thời điểm tranh đông hồ xuất hiện).
tranh-khac-go-o-nhat-ban

Do tranh thường được sản xuất và bán vào dịp Tết Âm lịch trên khắp các vùng chợ quê của miền quê hương quan họ. Ở vào những ngày sum họp đầu năm đó, trong những mái nhà tranh đơn sơ hiện ra những bức tranh với nét vẽ đơn giản, màu sắc đậm đà, rộn vang như tiếng pháo đêm giao thừa.
Đừng bỏ qua cách gắn những bức tranh đá quý tiền tỷ :https://longchaubaongoc.com/goc-tu-van/quy-trinh-lam-tranh-da-quy-that-ra-chi-co-3-buoc.html

7 loại đề tài vẽ phổ biến ở tranh đông hồ

Về đề tài vẽ thì tranh có nhiều loại chia ra làm 7 chủ đề khác nhau. Chúng bao gồm : tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.

1.1. Tranh thờ tiền tài

tranh tho tien tai

Là dòng tranh miêu tả về tưởng nhớ ông bà, gia tiên và thờ cúng các vị thần che trở, bảo vệ hay là mang lại may mắn phúc lộc cho gia đình...

Riêng các vị Thần Tài, thổ công chỉ thờ dưới đất, trong góc hẹp, được lý giải bởi 1 truyền thuyết sau:
 Ngày xưa, mang một người nhà buôn tên là Âu Minh lúc đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần cho 1 con hầu tên là Như Nguyệt. Âu Minh đem Như Nguyệt về nuôi, trong nhà khiến ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to. Về sau, đúng vào một hôm ngày tết, Âu Minh giận, bèn đánh Như Nguyệt. sợ hãi, Như Nguyệt chui vào đống rác rồi biến mất. từ đó, nhà Âu Minh sa sút dần, chẳng mấy khi nghèo kiết. Người ta bảo Như Nguyệt là Thần Tài và người ta lập bàn thờ Như Nguyệt. trong khoảng đấy, ngày tết ta sở hữu tục kiêng hốt rác ba ngày đầu năm vì sợ hốt mất Thần Tài ẩn trong đống rác đổ đi, sự khiến cho ăn sẽ không phát đạt, sự làm cho ăn sẽ ko phát đạt, tiến đến được.

1.2. Tranh chúc tụng

tranh-chuc-tung

Cá chép là tượng trưng cho sự kiên trì, sung túc, cá gáy là tượng trưng cho sự bền chí, giàu có, vì thế mà với nhiều huyền thoại về cá chép được diễn tả ở các bức tranh như cá gáy hoá rồng, cá chép chơi trăng, Cá vượt long môn….. Và ở đây ta lại bắt ngặp cảnh cá chép màu sắc sặc sỡ vẫy đuôi đang vấn vít bên nhau biểu hiện no ấm, hạnh phúc.

1.3. Tranh lịch sử

tranh lich su hung dao vuong tran quoc tuan

Là thể loại tranh diễn tả về những giai đoạn lịch sử, thời kỳ nhất định của dân tộc. Ví dụ điển hình như tranh : Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền...

Trần Hưng Đạo hay Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ông sinh năm 1226, mất năm 1300, thọ 74 tuổi. là danh tướng thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, là người có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Đồng thời ông còn là một nhà nghiên cứu quân sự với các bộ binh pháp Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp bí truyền. Ông còn được người dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi là Đức thánh Trần.

1.4. Tranh truyện

tranh truyen thach sach

Là thể loại tranh vẽ về đề tài những cốt truyện cổ, trong thi ca văn học như thạch sanh đánh xà tinh, truyện kiều, truyện ngụ ngôn...

1.5. Tranh phương ngôn tục ngữ đông hồ

tranh phuong ngon tuc ngu dong ho

Là thể loại tranh vẽ về đề tài châm ngôn, tục ngữ hay phương ngôn trong đó biểu thị ý nghĩa mang tính giáo dục, răn đe về đạo đức con người.

Ví dụ về một số tranh phương ngôn điển hình : Lễ, nghĩa, trí, tín...

1.6. Tranh cảnh vật

tranh canh vat

Là đề tài tranh miêu tả về phong cảnh, sự vật, sự việc đang diễn ra, hoặc thường xuyên xuất hiện trong đời sống. Ở đây điển hình như : Đàn lợn ăn ráy, đấu vật, mục đồng chăn châu, thổi sáo...

Tranh đông hồ chủ đề lễ hội là niềm vui mơ ước đầu năm

tranh dong ho le hoi dau nam

Tranh chủ đề lễ hội thường được diễn tả bằng đường nét vui nhộn, màu sắc sặc sỡ, bắt mắt. Thường thì vẽ về cảnh sinh hoạt đầu năm của thôn làng, với những trò chơi dân gian, hay những sự kiện kỷ niệm ngày hội văn hóa truyền thống của dân làng miền quê đó.

Tranh đông hồ lễ hội làng

tranh dong ho le hoi lang

Bức tranh "Hội làng" diễn đạt lòng biết ơn đối với cha ông, những người với công có đất nước, có địa phương theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn" đồng thời bức tranh còn diễn tả cảnh sinh hoạt của người dân thôn dã.

Hội làng còn được xem như là món ăn ý thức, tinh thần và chính điều này tạo nên những trị giá tư tưởng có đậm văn hóa Việt.

Hiện nay, mọi người vẫn giữ nét đẹp văn hóa dân tộc và vẫn tổ chức những ngày lễ, hội làng theo phong tục nên bức tranh "Hội làng" này luôn mang ý nghĩa sâu sắc giá trị nhân văn, cùng những đạo lý khiến người nói nhở con cháu phải "uống nước nhớ nguồn". Chính vì ý nghĩa ấy nên Tranh dân gian Đông Hồ khổ lớn - Hội làng được mọi người mua về để treo trong nhà như một lời đề cập nhở mọi người sống sao cho phải đạo, nó cũng là lời dăn dạy cho những thế hệ trẻ trong gia đình biến "uống nước nhớ nguồn". Bức tranh khổ to Hội làng luôn được toàn bộ người kiếm tìm nhất là những văn phòng, doanh nghiệp sắm về để treo ở đại sảnh hay phòng khách của tổ chức để trang hoàng. những "đại gia" cũng tìm kiếm bức tranh khổ lớn Hội làng này để biểu thị sang trọng, sự "độc" và sự hiểu biết của gia chủ.

Tranh đông hồ đánh đu, cảnh chơi đu trong ngày hội đầu năm

tranh dong ho danh du

Tranh hội đu thuộc thể loại tranh phong tục truyền thống trong cái hình thái tranh dân gian Đông Hồ. Tranh biểu thị 1 trò chơi truyền thống của người dân Việt Nam ngày xưa và vẫn còn tồn tại ở 1 số làng quê của Việt Nam ở hiện tại.

Ý nghĩa tranh đánh đu trong ngày hội

Trò chơi đánh đu Chơi đu thường diễn ra vào những ngày Tết cổ truyền dân tộc hay trong những ngày lễ hội đầu xuân ở các hội làng. từ những ngày trước Tết, các làng cử người đi tìm chọn các cây tre lớn cuốn hút nhất để dựng cột đu.

Cây đu thường được dựng giữa bãi đất rộng ở sân đình làng.

Cây đu được cấu tạo gồm: sở hữu trụ đu, thượng đu, tay đu và bàn đu.

+ Trụ đu gồm 4 cây tre lớn tạo thành 2 cột trụ, thượng đu khiến cho bằng thanh tre đặt ngang nối hai phần trụ đu có nhau.

+ Tay đu là hai cây tre già nhỏ vừa có tay cầm và được chốt vững chắc để người đu cầm lúc đu.

+ Bàn đu là chỗ người chơi đứng lên trên đấy để đu.

với dạng phổ thông thì cách đu nhưng nhiều nhất vẫn là đu đơn và đu đôi; đu đơn là đu một người, đu đôi là đu hai người.

Đu đơn nữ thường biểu thị sự nhẹ nhõm và duyên dáng của người con gái, đu đơn nam thường diễn tả sự khỏe mạnh, bay bổng và vững chắc của người con trai.

Đu đôi gồm sở hữu đôi nam, đôi nữ và đôi giới tính. bên cạnh đó, hấp dẫn nhất, quyến rũ và ham thích nhất vẫn là chơi đu đôi giới tính. 2 người lên đu quay mặt vào nhau, tiêu dùng tay vịn thân đu, tiêu dùng sức từ đôi chân đẩy cho đu bay cao.

Người chơi càng nhũn nhặn mạnh, đu càng bay lên cao. khi cần đu lên ngang tầm với ngọn đu là khi đu hay nhất, người đu kết hợp ăn nhịp nhất, ví như người chơi đu khéo, đu giỏi với khi bàn đu còn bay qua ngọn đu 1 vòng. phổ thông nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người chơi giật giải. Trò chơi đu đề nghị người chơi phải thật tĩnh tâm, có sức khỏe và một tí dũng mãnh, bởi đây là trò chơi mang tính giả mạo hiểm khi người đu với cảm giác hưng phấn thì với thể điều khiển đu bay lên rất cao. giả dụ ko tĩnh tâm và ko mang sức khỏe thì người chơi rất khó điều khiển cây đu.

1.7. Tranh phản ánh sinh hoạt

tranh phan anh sinh hoat choi chim

Là chủng loại tranh phổ biến nhất, nói về khung cảnh sinh hoạt thôn dã nơi làng quê yên bình. Ví dụ như tranh : Đánh ghen, đàn gà, chọi gà, chọi cá, cua...

II. Kĩ thuật và nguyên liệu làm tranh đông hồ

Cách làm tranh đông hồ thật phong phú và đa dạng vùng nguyên liệu. Từ khâu chuẩn bị nguyên liệu cho đến giai đoạn chế tác kĩ thuật cũng kì công không kém.

Tranh Đông Hồ được khắc trên ván gỗ, trước hết là một bản nét, rồi tranh có bao nhiêu sắc thì thêm bấy nhiêu bản màu. Nền tranh là giấy điệp (làm bằng vỏ cây dó) phết lên một lớp điệp một màu óng bạc (bột tán một loại vỏ sò). Vỏ sò lấy ở bờ biển được nghiền giã nhỏ thủ công trộn với hồ. (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó.

Loại giấy này được sản xuất theo lối thủ công đưa từ làng Đông Cảo - Bắc Ninh hay làng Bưởi - Hà Nội về, cắt thành nhiều cỡ.

· Kích thước tranh đông hồ nhỏ nhất là 11cm x 12cm, lớn nhất là 22cm x 31cm.

Nguyên liệu chính để làm tranh đông hồ

nguyen lieu lam tranh dong ho

Trên từng thớ điệp, khi hớn hở, khi thanh thản, những màu nguyên gốc rung lên theo ánh sáng.
ban khac go lam tranh dong ho

+ Màu vàng hòe tượng trưng cho sự no đủ, màu vàng rộm lên như cánh đồng lúa chín được làm từ hoa hòe.

+ Màu xanh như luỹ tre làm từ những gỉ đồng hay lá chàm miền Tây Bắc.

+ Màu đỏ gấc như yếm thắm lấy từ gỗ vang hoặc là sỏi có màu son trên núi Thiên Thai.

+ Màu nhiễu tím như thắt lưng.

+ Màu đen làm bằng than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kĩ trong chum vại vài tháng rồi mới đưa vào sử dụng, màu đen này như váy lĩnh giữa mùa quan họ.

+ Màu trắng hoàn toàn từ vỏ của con điệp, được lấy từ vùng biển. (riêng vỏ sò điệp này phải được sống ở vùng nước biển xanh trong, nhiều nắng thì da điệp mới có độ sáng bóng, lấp lánh tinh khiết cao nhất).
cach ve tranh dong ho

Tất cả đều là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên thực vật mà cuộc đời chúng ăn sâu vào tâm thức người Việt từ thưở xa nào. Tiếng nói sâu kín của bản năng và tiềm thức không biết bao lần làm ta giật mình, bồi hồi trong kỷ niệm. Nét tranh khắc rất sâu, màu in phẳng đẹp.

Để hoàn thiện một bức tranh Đông Hồ cần rất nhiều thời gian. Phải có một số thợ thủ công chuyên nghiệp làm mực vẽ và giấy từ nguyên liệu thiên nhiên quanh vùng cũng như việc làm khuôn và in tranh.

Những chất màu thô này được trộn với nhau và hoà với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.

Giấy được là một cách thủ công từ vỏ cây dó và được phết một lớp điệp làm từ vỏ sò biển. Thậm chí những chiếc chổi lông dùng để phết giấy và khuôn in cũng được làm bằng lá cây vân sam dát phẳng. Tranh được vẽ bằng cách bôi màu vào bản khắc gỗ, mỗi màu một bản sau đó ấn khuôn lên giấy. Tranh được phơi khô sau mỗi lần in ba hay năm màu.
vo so lam giay diep ve tranh dong ho

Sau khi in thành tranh, kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Những năm gần đây có một số người khi in tranh đã từng dùng một số màu và hoá chất hiện đại, như thế sản phẩm có tăng nhưng chất liệu màu của tranh không tươi màu sắc nét như tranh làm truyền thống. Ðã thế, chỉ trong một thời gian ngắn màu sắc bị phai nhạt.
Tham khảo thêm tại : tranh đá quý

III. Danh sách 101 Mẫu tranh đông hồ cổ đẹp nhất mọi thời đại

danh sach 101 mau tranh dong ho co dep nhat moi thoi dai

Dưới đây là danh sách bao gồm tất cả 101 mẫu tranh đông hồ cổ, đẹp và giá trị nhất mọi thời đại. Mời các bạn cùng thưởng thức :

Tranh đông hồ cổ vẽ Hổ

tranh dong ho co ve ho

Tranh vẽ Lân

tranh dong ho co ve lan

Tranh vẽ Qui

tranh dong ho co ve qui

Tranh cổ vẽ rồng

tranh dong ho co ve rong

Tranh Vinh Hoa Phú Quý

tranh cau be om ga
tranh đông hồ vinh hoa phú quý
 

Đây là 2 bức tranh rất đặc biệt vì chúng phải luôn đi với nhau thành cặp thì mới đầy đủ ý nghĩa. Cặp tranh "Vinh hoa – Phú Quý" là tranh Tết mang ý nghĩa chúc tụng cũng như cầu may cho gia đình có một cuộc sống giàu sang, đầy đủ “vinh hoa – phú quý”. Điều này đồng nghĩa với việc gia đình có đông con, nhiều cháu (người xưa có quan niệm nhà đông con chính là nhà có phúc). Ngoài ra, cặp tranh còn mang hàm ý chúc cho gia đình có đầy đủ cả nếp lẫn tẻ (tức là có trai, có gái) như vậy thì mới tròn đầy.

Tranh "Vinh hoa" vẽ một bé trai bụ bẫm, ôm con gà trống bên chậu hoa cúc ("cúc kê"), biểu hiện lòng mong mỏi sinh được con trai khỏe mạnh, sau này lớn lên sẽ là người thành đạt, vinh hiển, hay ít nhất cũng là lao động chính trong gia đình. Con gà trống và hoa cúc là biểu tượng của người quân tử thời xưa với những phẩm chất cao đẹp.

Tranh "Phú quý" vẽ một bé gái xinh xắn ôm con vịt, cài thêm bông hoa sen ("liên áp"). Hoa sen gợi tới hình ảnh trong trắng, thanh cao "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Còn con vịt ngụ ý sau này cô gái sẽ là người đông con nhiều cháu, mắn đẻ như... vịt.

Ý nghĩa tranh Vinh Hoa Phú Quý

Hai bức tranh Tết này dễ đập vào mắt người xem nhất, làm sáng bừng lên mọi góc khuất trong căn nhà, tăng thêm sinh khí. Bố cục tranh ở mức tinh giản, không có cảnh vật xung quanh, tập trung đặc tả con người và các con vật, hoa lá. Màu sắc đơn giản, tươi tắn, các mảng màu mạnh mẽ, đối chọi nhau chắc nịch, giàu tính trang trí, gợi cảm. Đường nét to khỏe, uyển chuyển, tinh lọc tới mức, nếu không tô màu, bức tranh vẫn đẹp và sinh động như thường. Khuôn mặt hai em bé hồng hào, rạng rỡ, đôi mắt như mắt Phật đang cười, khiến ai mà chẳng ước ao sẽ sinh hạ được những đứa con "đẹp như tranh vẽ". Con gà và con vịt tuy nằm phủ phục, nhưng đầu ngẩng cao, biểu hiện nỗi niềm khao khát vươn lên trong cuộc sống.

Chính vì những ý nghĩa tốt đẹp đó nên cặp tranh "Vinh hoa – Phú quý" thường được mua về để treo trong nhà dịp Tết như một lời chúc cho sự thành đạt, no ấm của gia chủ và đó cũng là lời chúc cho gia đình được giàu sang, phú quý, con cháu đề huề với đầy đủ cả trai lẫn gái.


Tranh Chọi Cá
tranh đông hồ chọi cá
Chọi Chim
tranh choi chim
Tranh Chăn Trâu Thả Diều
tranh dong ho cuoi trau
Tranh đám cưới chuột
tranh dong ho dam cuoi chuot
Đánh Ghen
tranh đánh ghen
Hiếu học
tranh đông hồ hiếu học
Lão nông nghỉ ngơi
tranh đông hồ cổ lão nông nghỉ ngơi
Lễ trí nhân nghĩa
tranh lễ trí nhân nghĩa
Lợn ăn cây ráy
tranh lợn ăn cây ráy
Múa lân
tranh múa lân
Múa rồng
Tranh đông hồ múa rồng
Mục đồng đọc sách
tranh mục đồng đọc sách
Mục đồng thổi sáo
tranh mục đồng thổi sáo
Ông tơ bà nguyệt
tranh đông hồ ông tơ bà nguyệt
Táo Quân
tranh đông hồ táo quân
tranh táo quân
thạch sanh bắn đại bàng
tranh thạch sanh bắn đại bàng
Thạch Sanh và Công chúa đoàn viên
tranh thạch sanh công chúa đoàn viên
Thầy đồ Cóc
tranh dong ho thay do coc
Thiên Hạ Thái Bình
tranh dong ho thien ha thai binh
Tố Nữ ( Tứ đại mỹ nhân )
tranh đông hồ tố nữ

Tranh đông hồ Tứ quý Hoa

Bộ tranh Đông Hồ Tứ quý Hoa thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh bốn mùa trong năm là: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng). Mỗi loài hoa, loài cây lại tương ứng với một loài chim. Vẽ hoa ấy phải đi với chim ấy mới là đúng quy tắc, đúng luật.

Như vẽ hoa mai phải vẽ với chim khổng tước (mai/điểu), hoa hồng với chim công (hồng/công), hoa cúc với gà (kê/cúc), cây thông với chim hạc (tùng/hạc) v.v…Tuy nhiên trong tranh dân gian Đông hồ vẫn có những cách vẽ ngẫu hứng phá luật để làm bức tranh thêm giàu màu sắc như: Vẽ cây Tùng đi với chim Công, hoa hồng đi với chim Phượng, phù dung đi với chim Loan Phượng, hạc đi với mai/đào.

tranh đông hồ tứ quý hoa cúc
Tứ quý hoa
tranh đông hồ tứ quý vịt sen
Tứ quý vịt sen
tranh đông hồ vinh quy bái tổ
Vinh quy bái tổ

IV. Ý nghĩa lịch sử bí ẩn 6 loại gà tốt đẹp trong tranh đông hồ

ý nghĩa lịch sử bí ẩn 6 loại gà đại cát

Trong thể loại tranh Đông Hồ thì động vật được phản ảnh rất nhiều, thí dụ như lợn, vịt, cá, chuột… nhưng riêng với loài gà thì được “ưu ái” hơn khi sở hữu tới 6 dòng tranh cùng nhắc đến.

Tranh đàn gà mẹ con

tranh đông hồ đàn gà mẹ con

Mỗi loại trong tranh Đông Hồ đều có một ý nghĩa riêng rất bí ẩn và đặc biệt, trước hết là hình ảnh gà với tên “Đàn gà mẹ con”.

Trong tranh vẽ hình ảnh 10 con gà con quây quần bên gà mẹ. Bức tranh này biểu trưng cho sự hạnh phúc, đầm ấm trong gia đình, đồng thời, khiến toát lên sự hy sinh, vất vả của người mẹ khi quang gánh, kiếm mồi cho đàn con. bên cạnh đó, bức tranh còn cho thấy thực tế phố hội khi muốn nhấn mạnh việc một mẹ với thể nuôi được 10 con, nhưng chưa chắc 10 người con với thể nuôi được mẹ.

Tranh gà Thư Hùng

tranh dong ho ga thu hung

Cùng biểu thị hạnh phúc trong gia đình nhưng tranh gà “Thư Hùng” thuộc dòng tranh chúc tụng trong tranh Đông Hồ.

Tranh thư hùng lột tả lại sự gắn kết giữa các loài gà với nhau.

Tranh chọi gà

tranh dong ho choi ga

Trong nhiều lễ hội dân gian ở Việt Nam, "chọi gà" luôn lôi kéo sự để ý của hầu hết người dân. Chính vì thế cho nên, họa sĩ đã lột tả hình ảnh hai con gà trống quay đầu vào nhau trong tranh Đông Hồ phản ảnh thú chơi này.

Có thể bây giờ chọi gà không được cổ súy do tình trạng đá gà, cá cược gà gây ra những hệ lụy nghiêm trọng và được xét như là một hình thức đánh bạc.

Nhưng xét về chiều sâu tâm tưởng của nhiều người Việt, tại bối cảnh lịch sử ấy thú chơi chọi gà vừa với tính tiêu khiển nhưng kế bên ấy nó diễn tả cho sự nuôi dưỡng ý thức thượng võ, chất keo gắn kết ý thức cộng đồng đã từng còn đó trong 1 thời kì tương đối dài trong những hội làng xưa. khi đem tặng bức tranh này thường đi với lời chúc sức khỏe, sự cần mẫn, siêng năng chuyên cần.

Tranh dạ xướng ngũ canh hòa

tranh dong ho da xuong ngu canh hoa

Nâng niu trên tay bức tranh “Dạ Xướng Ngũ Canh Hòa” cảm xúc thật là khó tả.

Trong rộng rãi tranh về gà thì đây là 1 bức tranh đề đạt sâu sắc nhất tập quán, lề thói của người Việt thời xưa. Lúc chưa mang đồng hồ để căn giờ giấc sinh hoạt hay làm việc, người Việt nghe tiếng gà gáy để đoán định thời gian bằng từng canh khác nhau.

Bức tranh như là lời nói nhở về chữ tín mà thế gian luôn cần phải nhớ qua biểu thị tiếng gà năm canh, dù trong hoàn cảnh nào, dù nắng mưa hay giá rét không bao giờ sai.

Tranh gà đại cát

 tranh đá quý gà đại cát

Bức ‘Đại Cát’ diễn tả lại những việc đại sự trong đời mỗi người như xây nhà, dựng vợ, gả chồng. Nó là biểu tượng của cho sự may mắn, thuận lợi.

Tranh gà hoa hồng

tranh dong ho ga hoa hong

Đặc biệt là bức 'Gà hoa hồng', người Việt thường quan niệm con gà trống là biểu tượng của ngũ đức: văn, võ, dũng, nhân, tín - là những đức tính rất cần có của một bậc dũng sĩ. Thậm chí con gà đã là một mã văn hóa đi liền với tín ngưỡng tôn sùng mặt trời của nghề trồng lúa nước.
Có thể bạn chưa biết

Làng tranh Đông Hồ xưa là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng trên 25 km. Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương chỉ gọi là làng Hồ) nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ.

Quanh năm rất nhiều khách du lịch trong ngoài nước đến làng tranh Đông Hồ thăm và mua tranh Đông Hồ làm kỷ niệm. Một số khách sạn, nhà hàng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bức tranh khổ lớn để trang trí cho cách phòng khách, hoặc phòng ăn lớn. Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ đường gần nhất du khách thường đi là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 (đường đi Hải Phòng) đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km nữa, qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh) là đến phố Hồ-huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng có thể đi hết phố Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ dẫn đường xuống làng Đông Hồ.

Làng Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái. Các cụ làng Đông Hồ vẫn truyền lại mấy câu ca rằng:

Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có sông tắm mát có nghề làm tranh.

Làng Đông Hồ nằm ngay sát bờ sông Đuống, ngày xưa chỉ cách sông một con đê, đó là ý trong câu "Có sông tắm mát có nghề làm tranh". Ngày nay, do sự bồi lấp của dòng sông nên từ đê ra đến mép nước giờ khá xa.

Còn "làng Mái có lịch có lề" thì nghĩa là gì? Tục ngữ Việt Nam có câu: giấy rách phải giữ lấy lề. Chữ "lề" ở đây tượng trưng cho những quy tắc đạo đức của người xưa, rất trọng danh dự, khí tiết. Còn dân làng Mái, dân nghệ thuật rất trọng lời ăn tiếng nói. Không như nhiều làng quê khác, người dân làng Hồ, nhất là phụ nữ, ăn nói rất lịch lãm, trên dưới thưa gửi rất rõ ràng. Người làng kể rằng kể cả từ xưa, rất hiếm khi trong làng có tiếng người mắng chửi nhau.

Do công nghệ phát triển, tranh dân gian làng Hồ bây giờ không tiêu thụ nhiều như trước. Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã quy tụ về làng, vốn xưa tất cả đều làm tranh. Nhưng đến nay, dân làng Hồ hiện chủ yếu sống bằng nghề làm vàng mã. Hiện nay chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam cùng con cháu là theo nghề tranh, gìn giữ di sản tranh Đông Hồ.

Ngày xưa, làng Đông Hồ có chợ tranh tấp nập dịp tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch) với 5 phiên chợ vào các ngày 6, 11, 16, 21, 26. Trong mỗi phiên chợ có hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra bán cho lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo Tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 Âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất chờ đến mùa tranh năm sau mang ra chợ bán.

Hàng năm làng Hồ có hội làng vào rằm tháng vào 3 âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Làng còn có các làn điệu dân ca như:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu
Mua tờ tranh điệp tươi màu
Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều.

Các tin khác
© Copyright 2018  LONGCHAUBAONGOC
Mạng xã hội